Các nguyên tắc chung liên quan đến chính sách về hệ sinh thái khởi nghiệp
cập nhật: 27/09/2017 08:27:22

Việc xây dựng chính sách của chính phủ đối với các hệ sinh thái khởi nghiệp (HSTKN) cần đảm bảo các nguyên tắc chung dưới đây: Không thể tạo ra một điều gì đó từ chỗ không có gì - Các HSTKN cần được phát triển từ các ngành công nghiệp hiện có bên trong một khu vực hay đất nước; Các tiếp cận chính sách cần tiến hóa theo thời gian: các HSTKN là những hệ thống phức hợp và có tính động, chúng cần được định hình và phát triển theo cách hữu cơ và sự tiến hóa của chúng không thể thúc giục vội vã bằng sự can thiệp trực tiếp; Không có một mô hình phù hợp cho tất cả: mỗi HSTKN đều có đặc thù riêng, độ lớn và hình thù của chúng được xác định bởi các điều kiện địa phương trong phạm vi của từng thành phần trong hệ sinh thái; Các sáng kiến chính phủ có thể sẽ không hiệu quả nếu triển khai trong sự cô lập: không có "viên đạn ma thuật" nào có thể sử dụng để kích thích sự tăng trưởng trong một hệ sinh thái khởi nghiệp. Mỗi thành phần đều có tầm quan trọng ngang nhau, nếu thiếu bất kỳ một thành phần nào đó thì hệ thống sẽ thất bại hoặc không phát triển được; Các hệ sinh thái khởi nghiệp đòi hỏi một cách tiếp cận "từ trên xuống" và "từ dưới lên": cần thiết lập chính sách chính phủ ở cả hai cấp vĩ mô và vi mô để giúp kích thích và duy trì sự phát triển của một hệ sinh thái khởi nghiệp.

 Phân biệt giữa chính sách doanh nghiệp nhỏ và chính sách khởi nghiệp: hầu hết các doanh nghiệp nhỏ không phải do các nhà khởi nghiệp sở hữu và điều hành. Mặc dù phần lớn các doanh nghiệp là doanh nghiệp nhỏ, nhưng chỉ có một tỷ lệ tương đối nhỏ tập trung vào tăng trưởng.

Chính sách đối với các doanh nghiệp tăng trưởng cao nên phản ánh tính đa dạng của các công ty đó: là những công ty tăng trưởng cao không nhất thiết chỉ có trong các lĩnh vực công nghệ cao. Hơn nữa, các con đường tăng trưởng của chúng ít khi mang đặc điểm tuyến tính, chỉ có rất ít doanh nghiệp tăng trưởng cao được hỗ trợ bằng vốn mạo hiểm và nhiều doanh nghiệp này phát triển thông qua việc mua lại.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, thành phần trước tiên và cũng quan trọng nhất của một HSTKN đó là chính sách của chính phủ. Điều này không chỉ liên quan đến các lĩnh vực quan hệ trực tiếp với doanh nghiệp nhỏ hay tinh thần khởi nghiệp, mà đối với một phạm vi rộng các chính sách liên quan đến hệ thống thuế, các dịch vụ tài chính, viễn thông, giao thông, thị trường lao động, nhập cư, hỗ trợ công nghiệp, giáo dục và đào tạo, cơ sở hạ tầng và y tế. Phần lớn mối quan tâm của các chính phủ liên quan đến chính sách doanh nghiệp nhỏ và chính sách khởi nghiệp là các dự án khởi nghiệp mạo hiểm, cộng với các doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp khởi nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong tạo việc làm.

Một yếu tố khác tác động đến mối quan tâm chính sách chính phủ về doanh nghiệp nhỏ và khởi nghiệp đó là sự công nhận rằng hầu như trên khắp thế giới, doanh nghiệp SME chiếm đa số. Ví dụ trong nhóm 34 nền kinh tế tiên tiến thuộc OECD, các doanh nghiệp SME (được xác định là các doanh nghiệp có ít hơn 250 nhân công và có doanh thu hàng năm thấp hơn 50 triệu euro) chiếm trung bình 99% trong tổng số các công ty, cung cấp khoảng 67% số việc làm và hơn một nửa tổng giá trị gia tăng.

Cần nhận thức rằng chính sách đối với đa số doanh nghiệp nhỏ có thể phải giải quyết một tập hợp các vấn đề khác so với yêu cầu chính sách thúc đẩy các doanh nghiệp khởi nghiệp. Chính sách doanh nghiệp nhỏ có xu hướng tập trung vào hỗ trợ giao dịch, bao gồm các vấn đề về quy định và tuân thủ, thường là bên trong các ngành công nghiệp cụ thể. Các doanh nghiệp khởi nghiệp cần đến sự hỗ trợ mang tính quan hệ hơn. Sự hỗ trợ đó thường có tính nhạy cảm thời gian, năng động, tập trung chiến lược và dựa trên cơ sở ngang hàng. Trong khi một SME thông thường có thể yêu cầu hỗ trợ giao dịch (ví dụ như trong việc tuân thủ), thì các SME khởi nghiệp lại cần sự hỗ trợ quan hệ. Doanh nghiệp khởi nghiệp có tính chất chung hơn và họ giao dịch với các công ty đang tìm kiếm sự tăng trưởng cao hơn mức trung bình và do đó được cho là có mức rủi ro cũng cao hơn mức trung bình.

Chính sách chính phủ liên quan đến sự phát triển các HSTKN cần phải giải quyết 7 nguyên tắc chung và bất kỳ HSTKN bền vững nào cũng cần phải phát triển một cách hữu cơ từ các ngành công nghiệp hiện tại, điều đó chứng minh khả năng tồn tại của chúng trong các điều kiện địa phương. Các chính sách chính phủ hay tìm cách kích thích sự phát triển các bản sao của Thung lũng Silicon thông qua việc xây dựng các công viên khoa học và trung tâm công nghệ. Thực tế cho thấy là các biện pháp này hiếm khi thành công.

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách cần nhận thức rằng “không thể tạo ra một cái gì đó từ chỗ không có gì". Các HSTKN dựa trên cơ sở các tài sản đã có từ trước và không phải chỉ có một công cụ liên quan đến các ngành công nghiệp công nghệ cao. Các ngành công nghiệp truyền thống như thực phẩm và đồ uống, năng lượng, hậu cần, cấp thoát nước, công nghiệp chế tạo, tất cả cùng tạo ra nền tảng để hình thành các hệ sinh thái khởi nghiệp năng động, có giá trị gia tăng cao. Chúng thường được coi là nơi đáng sống và có một số cơ sở tri thức đáng kể. Tốt nhất, chính phủ có thể đóng góp vào các điều kiện tiên quyết cho sự nổi lên của các hệ sinh thái khởi nghiệp, ví dụ như thông qua các chính sách đầu tư có tính chọn lọc cao. 

Thứ hai, các phương pháp tiếp cận chính sách cần tiến hóa theo thời gian. Các hệ sinh thái là những thực thể động và phức tạp. Vì thế hình thức can thiệp thích hợp là phải tác động đến sự trưởng thành của hệ sinh thái. Ví dụ, ở giai đoạn mới nổi có thể cần đến sự hỗ trợ các quá trình khởi nghiệp, nhưng khi hệ sinh thái đã trưởng thành thì lại cần giúp các doanh nghiệp phát triển tổ chức, phát triển nguồn nhân lực, hỗ trợ hội nhập quốc tế và tiếp cận nguồn vốn tăng trưởng.

Thứ ba, ở đây không có cách tiếp cận "một mô hình phù hợp cho tất cả". Mỗi hệ sinh thái đều có tính độc đáo. Nhiều thành phần trong các hệ sinh thái sẽ khác nhau. Thái độ văn hóa địa phương, cơ cấu hệ thống ngân hàng địa phương và các chính sách giáo dục, tất cả đều sẽ ảnh hưởng đến bản chất của các hệ sinh thái địa phương. Cách tiếp cận đơn giản chỉ muốn sao chép các hệ sinh thái khác là không thích hợp và có khả năng thất bại. Mỗi hệ sinh thái cần có cách tiếp cận riêng tùy thuộc vào hoàn cảnh địa phương. Điều này được nhấn mạnh bởi sự gia tăng mô phỏng Thung lũng Silicon ở mọi nơi (Silicon Somewhere) trong đó phần lớn là sự thực hành tuyên truyền cổ động theo chính sách mà ít chú ý đến đặc tính và khả năng cụ thể của các địa phương.

Thứ tư, các sáng kiến có thể sẽ không hiệu quả nếu được áp dụng trong sự cô lập. Ví dụ, việc tăng nguồn cung vốn mạo hiểm có thể không có hiệu quả nếu không có lưu lượng giao dịch. Việc khuyến khích thêm nhiều người khởi sự doanh nghiệp có thể ít có tác động nếu như hoạt động khởi nghiệp này bị diễn ra tại các vùng tăng trưởng thấp. Việc áp dụng giáo dục tinh thần khởi nghiệp sẽ không hiệu quả nếu sinh viên tốt nghiệp chuyển đến các môi trường thuận lợi khởi nghiệp hơn. Chính sách cần được tiến hành theo cách tổng thể.

Thứ năm, việc phát triển các HSTKN cần phải là một sự pha trộn của các cách tiếp cận “từ trên xuống" và "từ dưới lên". Các điều kiện khung thích hợp là cần thiết. Ví dụ, luật nhập cư không nên tạo ra rào cản đối với việc thu hút nhân tài. Các quyền sở hữu tài sản cần được tôn trọng. Việc đánh thuế doanh nghiệp và cá nhân cần phải có các biện pháp khuyến khích thích hợp để thưởng công cho việc dám chấp nhận rủi ro và khuyến khích tái đầu tư. Mặt khác, nên tránh sử dụng các khoản trợ cấp và trợ giá vì chúng có thể làm sai lệch hành vi khởi nghiệp. Nhưng cũng có yêu cầu về các xúc tiến “từ dưới lên” để cải thiện môi trường. Cách tiếp cận này được coi như việc tạo “keo dính” để kết nối các thành phần tham gia khác nhau trong hệ sinh thái. Hơn nữa, những xúc tiến từ dưới lên không nên được coi là trách nhiệm riêng của chính phủ. Sự phát triển các hệ sinh thái khởi nghiệp đòi hỏi phải có đầu vào tích cực từ cộng đồng doanh nghiệp. Sự hỗ trợ mạnh mẽ từ phía các doanh nghiệp lớn trong hệ sinh thái cũng là điều cần thiết, và quan trọng là sự tham gia như vậy được thúc đẩy bởi những cân nhắc thương mại, chứ không phải là trách nhiệm xã hội. Tuy nhiên, các nhà hoạch định chính sách hiếm khi tìm cách liên kết với các công ty lớn hơn trong hệ sinh thái.

Thứ sáu, điều quan trọng là phải nhận thức được sự khác biệt giữa các chính sách doanh nghiệp nhỏ với các chính sách khởi nghiệp. Chính sách doanh nghiệp nhỏ là một cách tiếp cận khá phân tán, chú trọng vào việc làm tăng số lượng các doanh nghiệp khởi sự. Đây là loại chính sách công không được đề cao do có sự tăng trưởng hạn chế, thời gian tồn tại ngắn và tỷ lệ thất bại cao, đa số các doanh nghiệp khởi sự bị thay thế. Chính sách khởi nghiệp quan tâm đến sự hỗ trợ cho các doanh nghiệp có tiềm năng tăng trưởng cao. Các doanh nghiệp này có nhiều khả năng cần đến sự hỗ trợ có tính quan hệ hơn là giao dịch. Hơn nữa, họ có thể được hưởng lợi nhiều nhất từ sự hỗ trợ trên cơ sở ngang hàng để có được những cơ hội lớn hơn về học hỏi kinh nghiệm và chia sẻ kiến thức tiềm ẩn. Hơn nữa, với đặc điểm tư chất và không ổn định của tăng trưởng doanh nghiệp, sự hỗ trợ như vậy cần nhạy cảm với thời gian, nhằm mục đích hỗ trợ các doanh nghiệp đã có kinh nghiệm “châm ngòi” tăng trưởng và do đó đang trải qua những thay đổi hệ thống về cấu trúc và hoạt động của doanh nghiệp.

Thứ bẩy, các chính sách thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp tăng trưởng cao cần nhận thức được tính chất đa dạng của các công ty tăng trưởng cao (HGFs) chứ không phải dựa vào đó để làm khuôn mẫu. Có it nhất 6 nhìn nhận sai lầm: không phải tất cả các HGFs đều mới/trẻ; họ không chiếm đa số trong các lĩnh vực công nghệ cao; các trường đại học không phải là nguồn chủ yếu của HGFs; chỉ có một số ít HGFs được hỗ trợ bằng vốn mạo hiểm; chúng không thể hiện sự tăng trưởng theo kiểu tàu chợ (liner) - nghĩa là tăng trưởng nhanh chỉ theo từng đợt; và họ không chỉ tăng trưởng hữu cơ - việc mua lại cũng đóng vai trò đáng kể.

Bản chất, độ lớn và sự định hình của một HSTKN sẽ thay đổi phụ thuộc vào các điều kiện địa phương. Ở đây cũng không có “viên đạn ma thuật” nào có thể bắn trúng vào một khu vực hay một nền kinh tế để thúc đẩy sự phát triển của HSTKN. Chính sách chính phủ cần giải quyết tất cả các thành phần của hệ thống này và đảm bảo rằng chúng được vận hành theo một phương thức lành mạnh và hiệu quả. Điều đó đòi hỏi chính sách chính phủ cần có tính toàn diện nhất có thể, với sự chú trọng nhằm vào cả hai cấp độ chính sách vĩ mô và vi mô để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển HSTKN thông qua một cách tiếp cận đồng thời “từ trên xuống” và “từ dưới lên”.

Nguồn: vista.gov.vn

:: Tin khác
- Dự án khởi nghiệp của hai sinh viên Huế giúp nông dân… thông thái
- Quý I/2018: Ra mắt thuốc phối hợp điều trị ung thư của Việt Nam
- Đơn giản hóa 7 thủ tục hành chính thuộc quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ
- Lần đầu tiên Việt Nam tổ chức hội chợ quốc tế Nông – Lâm – Ngư nghiệp
- Ứng dụng thành công năng lượng mặt trời vào sản xuất nước mắm quy mô công nghiệp
- Nhà nông sáng tạo từ thực tiễn
- Mô hình trồng nấm bằng bông đã rút sợi cho thu nhập cao
- Việt Nam sẽ có Trung tâm khoa học công nghệ hạt nhân trước 2025
- Triển khai chương trình khởi nghiệp trong cách mạng công nghiệp 4.0 để tránh chỉ dừng lại ở phong trào bề nổi
- Trồng rau sạch theo công nghệ Israel